Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện
KHAI KINH 1
TỰA ĐỊA TẠNG BỒ TÁT
CHÍ TÂM QUY MẠNG LỄ:
U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn
Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
Lạy đức từ bi đại Giáo Chủ
“Địa” là dày chắc,
“Tạng” chứa đủ
Cõi nước phương Nam nổi mây thơm
Rưới hương, rưới hoa, hoa vần vũ
Mây xinh, mưa báu số không lường
Lành tốt, trang nghiêm cảnh dị thường
Người, Trời bạch Phật: Nhơn gì thế?
Phật rằng: Địa Tạng đến Thiên Đường
Chư Phật ba đời đồng khen chuộng
Mười phương Bồ Tát chung tin tưởng
Nay con sẵn có thiện nhơn duyên
Ngợi khen Địa Tạng đức vô lượng
Lòng từ do chứa hạnh lành
Trải bao số kiếp độ sinh khỏi nàn
Trong tay đã sẵn gậy vàng
Dộng tan cửa ngục cứu toàn chúng sinh
Tay cầm châu sáng tròn vìn
Hào quang soi khắp ba nghìn Đại Thiên
Diêm Vương trước điện chẳng hiền
2 KINH ĐỊA TẠNG
Đài cao nghiệp cảnh soi liền tội căn
Địa Tạng Bồ Tát thượng nhân
Chứng minh công đức của dân Diêm Phù.
Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh, Đại Từ,
Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
VĂN PHÁT NGUYỆN
Lạy đấng Tam Giới Tôn
Quy mạng mười phương Phật
Nay con phát nguyện rộng
Thọ trì kinh Địa Tạng
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có kẻ thấy nghe
Đều phát Bồ Đề tâm
Hết một báo thân nầy
Sinh qua cõi Cực Lạc.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
(3 lần)
KHAI KINH 3
KỆ KHAI KINH
Pháp vi diệu rất sâu vô lượng
Trăm nghìn muôn ức kiếp khó gặp
Nay con thấy nghe được thọ trì
Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Phật.
Nam mô U Minh giáo chủ hoằng nguyện
độ sanh: Địa ngục vị không, thệ bất thành
Phật, Chúng sinh độ tận phương chứng
Bồ Đề…
Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh, Đại Từ,
Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
4 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN
QUYỂN THƯỢNG
PHẨM THỨ NHẤT
THẦN THÔNG TRÊN CUNG TRỜI
ĐAO LỢI
1) PHẬT HIỆN THẦN THÔNG. Ta nghe như
thế nầy: Một thuở nọ, tại cung Trời Đao
Lợi, đức Phật vì Thánh Mẫu mà thuyết
pháp.
Lúc đó, bất khả thuyết, bất khả
thuyết tất cả chư Phật và đại Bồ Tát trong
vô lượng thế giới ở mười phương đều đến
hội họp, rồi đồng khen ngợi rằng:
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể ở
trong đời ác ngũ trược mà hiện sức “Đại
trí tuệ thần thông chẳng thể nghĩ bàn” để
điều phục chúng sanh cang cường làm
cho chúng nó rõ “Pháp khổ pháp vui”.
Khen xong, chư Phật đều sai thị giả
kính thăm đức Thế Tôn.
Bấy giờ, đức Như Lai mỉm cười
PHẨM 1 5
phóng ra trăm nghìn vừng mây sáng rỡ
lớn. Như là:
Vừng mây sáng rỡ đầy đủ,
Vừng mây sáng rỡ đại từ bi,
Vừng mây sáng rỡ đại trí huệ,
Vừng mây sáng rỡ đại Bát Nhã,
Vừng mây sáng rỡ đại tam muội,
Vừng mây sáng rỡ đại kiết tường,
Vừng mây sáng rỡ đại phước đức,
Vừng mây sáng rỡ đại công đức,
Vừng mây sáng rỡ đại quy y,
Vừng mây sáng rỡ đại tán thán…,
Đức Phật phóng ra bất khả thuyết vừng
mây sáng rỡ như thế rồi lại phát ra các
thứ tiếng vi diệu. Như là:
Tiếng Bố thí độ,
Tiếng Trì giới độ,
Tiếng Nhẫn nhục độ,
Tiếng Tinh tấn độ,
Tiếng Thiền định độ,
Tiếng Bát Nhã độ,
Tiếng Từ bi,
Tiếng Hỷ xả,
Tiếng Giải thoát,
6 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
Tiếng Vô lậu,
Tiếng Trí huệ,
Tiếng Sư tử hống,
Tiếng Đại Sư tử hống,
Tiếng Mây sấm,
Tiếng Mây sấm lớn…
2) TRỜI RỒNG… HỘI HỌP. Khi đức Phật
phát ra bất khả thuyết, bất khả thuyết
tiếng vi diệu như thế xong, thời có vô
lượng ức hàng Trời, Rồng, Quỷ, Thần ở
trong cõi Ta Bà và cõi nước phương khác
cũng đến hội họp nơi cung Trời Đao Lợi.
Như là:
Trời Tứ Thiên Vương,
Trời Đao Lợi,
Trời Tu Diệm Ma,
Trời Đâu Suất Đà,
Trời Hóa Lạc,
Trời Tha Hóa Tự Tại,
Trời Phạm Chúng,
Trời Phạm Phụ,
Trời Đại Phạm,
Trời Thiểu Quang,
Trời Vô Lượng Quang
PHẨM 1 7
Trời Quang Âm,
Trời Thiểu Tịnh,
Trời Vô Lượng Tịnh,
Trời Biến Tịnh,
Trời Phước Sanh,
Trời Phước Ái,
Trời Quảng Quả,
Trời Nghiêm Sức,
Trời Vô Lượng Nghiêm Sức,
Trời Nghiêm Sức Quả Thiệt,
Trời Vô Tưởng,
Trời Vô Phiền,
Trời Vô Nhiệt,
Trời Thiện Kiến,
Trời Thiện Hiện,
Trời Sắc Cứu Cánh,
Trời Ma Hê Thủ La, cho đến Trời Phi
Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ. Tất cả Thiên
chúng, Long chúng, cùng các chúng Quỷ,
Thần đều đến hội họp.
Lại có những vị Thần ở cõi Ta Bà
cùng cõi nước phương khác, như:
Thần biển,
Thần sông,
8 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
Thần rạch,
Thần cây,
Thần núi,
Thần đất,
Thần sông chằm,
Thần lúa mạ,
Thần chủ ngày,
Thần chủ đêm,
Thần hư không,
Thần trên Trời,
Thần chủ ăn uống,
Thần cây cỏ… Các vị Thần như thế
đều đến hội họp.
Lại có những Đại Quỷ Vương ở cõi Ta
Bà cùng cõi nước phương khác, như:
Ác Mục Quỷ Vương,
Đạm Huyết Quỷ Vương,
Đạm Tinh Khí Quỷ Vương,
Đạm Thai Noãn Quỷ Vương,
Hành Bịnh Quỷ Vương,
Nhiếp Độc Quỷ Vương,
Từ Tâm Quỷ Vương,
Phước Lợi Quỷ Vương,
Đại Ái Kính Quỷ Vương… Các Quỷ
PHẨM 1 9
Vương như thế đều đến hội họp.
3) ĐỨC PHẬT PHÁT KHỞI. Bấy giờ đức
Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài Văn Thù
Sư Lợi Pháp Vương tử đại Bồ Tát rằng:
“Ông xem coi tất cả chư Phật, Bồ Tát và
Trời, Rồng, Quỷ, Thần đó ở trong thế giới
nầy cùng thế giới khác, ở trong quốc độ
nầy cùng quốc độ khác, nay đều đến hội
họp tại cung Trời Đao Lợi như thế, ông có
biết số bao nhiêu chăng?”.
Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng:
“Bạch đức Thế Tôn! Nếu dùng thần lực
của con để tính đếm trong nghìn kiếp
cũng không biết là số bao nhiêu!”.
Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi
rằng: “Đến Ta dùng Phật nhãn xem hãy
còn không đếm xiết! Số Thánh, phàm nầy
đều của ngài Địa Tạng Bồ Tát từ thuở
kiếp lâu xa đến nay, hoặc đã độ, đương độ,
chưa độ, hoặc đã thành tựu, đương thành
tựu, chưa thành tựu”.
Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật
rằng: “Từ thuở lâu xa về trước con đã tu
căn lành chứng đặng trí vô ngại, nghe lời
10 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
đức Phật nói đó thời tin nhận liền. Còn
hàng tiểu quả Thanh Văn, Trời, Rồng, tám
bộ chúng và những chúng sanh trong đời
sau, dầu nghe lời thành thật của Như Lai,
nhưng chắc là sanh lòng nghi ngờ, dầu
cho có lạy vâng đi nữa cũng chưa khỏi
hủy báng. Cúi mong đức Thế Tôn nói rõ
nhơn địa của ngài Địa Tạng Bồ Tát; Ngài
tu hạnh gì, lập nguyện gì mà thành tựu
được sự không thể nghĩ bàn như thế?”.
Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi
rằng: “Ví như bao nhiêu cỏ, cây, lùm,
rừng, lúa, mè, tre, lau, đá, núi, bụi bặm
trong cõi tam thiên đại thiên, cứ một vật
làm một sông Hằng, rồi cứ số cát trong
mỗi sông Hằng, một hột cát làm một cõi
nước, rồi trong một cõi nước cứ một hột
bụi nhỏ làm một kiếp, rồi bao nhiêu số
bụi nhỏ chứa trong một kiếp đều đem
làm kiếp cả. Từ lúc ngài Địa Tạng Bồ Tát
chứng quả thập địa Bồ Tát đến nay nghìn
lần lâu hơn số kiếp tỉ dụ ở trên, huống là
những thuở ngài Địa Tạng còn ở bực
Thanh Văn và Bích Chi Phật!
PHẨM 1 11
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Oai thần thệ
nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn
đến được. Về đời sau, nếu có trang thiện
nam, người thiện nữ nào nghe danh tự
của Địa Tạng Bồ Tát, hoặc khen ngợi,
hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, hoặc xưng
danh hiệu, hoặc cúng dường, nhẫn đến
vẽ, khắc, đắp, sơn hình tượng của Địa
Tạng Bồ Tát, thời người đó sẽ được một
trăm lần sanh lên cõi Trời Đao Lợi, vĩnh
viễn chẳng còn bị sa đọa vào chốn ác đạo.
4) TRƯỞNG GIẢ TỬ PHÁT NGUYỆN. Nầy
Văn Thù Sư Lợi! Trải qua bất khả thuyết,
bất khả thuyết kiếp lâu xa về trước, tiền
thân của ngài Địa Tạng Bồ Tát làm một vị
Trưởng Giả Tử. Lúc đó, trong đời có đức
Phật hiệu là: Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn
Hạnh Như Lai. Trưởng giả tử thấy đức
Phật tướng mạo tốt đẹp nghìn phước
trang nghiêm, mới bạch hỏi đức Phật tu
hạnh nguyện gì mà đặng tốt đẹp như thế?
Khi ấy, đức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc
Vạn Hạnh Như Lai bảo Trưởng giả tử
rằng: “Muốn chứng được thân tướng tốt
12 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
đẹp nầy, cần phải trải qua trong một thời
gian lâu xa độ thoát tất cả chúng sanh bị
khốn khổ”.
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Trưởng giả tử
nghe xong liền phát nguyện rằng: “Từ
nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời
sau, tôi vì những chúng sanh tội khổ
trong sáu đường mà giảng bày nhiều
phương tiện làm cho chúng đó được giải
thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng
thành Phật Đạo”.
Bởi ở trước đức Phật Sư Tử Phấn Tấn
Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, Ngài lập
nguyện rộng đó, nên đến nay đã trải qua
trăm nghìn muôn ức vô số bất khả thuyết
kiếp, mà Ngài vẫn còn làm vị Bồ Tát!
5) BÀ LA MÔN NỮ CỨU MẸ. Lại thuở bất
khả tư nghị vô số kiếp về trước, lúc đó có
đức Phật hiệu là: Giác Hoa Định Tự Tại
Vương Như Lai, Đức Phật ấy thọ đến bốn
trăm nghìn muôn ức vô số kiếp. Trong
thời tượng pháp, có một người con gái
dòng Bà La Môn, người nầy nhiều đời
chứa phước sâu dày, mọi người đều kính
PHẨM 1 13
nể, khi đi đứng lúc nằm ngồi, chư Thiên
thường theo hộ vệ. Bà mẹ của người mê
tín tà đạo, thường khinh khi ngôi Tam
Bảo. Thuở ấy, mặc dầu Thánh nữ đem
nhiều lời phương tiện khuyên nhủ bà mẹ
người, hầu làm cho bà mẹ người sanh
chánh kiến, nhưng mà bà mẹ người chưa
tin hẳn. Chẳng bao lâu bà ấy chết, thần
hồn sa đọa vào Vô Gián địa ngục.
Lúc đó, Thánh Nữ biết rằng người
mẹ khi còn sống không tin nhơn quả, liệu
chắc phải theo nghiệp quấy mà sanh vào
đường ác. Thánh Nữ bèn bán nhà, đất,
sắm nhiều hương hoa cùng những đồ lễ
cúng, rồi đem cúng dường tại các chùa
tháp thờ đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại
Vương. Trong một ngôi chùa kia thấy
hình tượng của đức Phật Giác Hoa Định
Tự Tại Vương đắp vẽ oai dung đủ cách
tôn nghiêm.
Thánh Nữ chiêm bái tượng của đức
Phật lại càng sanh lòng kính ngưỡng, tự
nghĩ thầm rằng: “Đức Phật là đấng Đại
Giác đủ tất cả trí huệ, nếu đức Phật còn
14 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
trụ ở đời, thì khi mẹ tôi khuất, tôi đến
bạch hỏi Phật, chắc thế nào cũng rõ mẹ
tôi sanh vào chốn nào”.
Nghĩ đến đó, Thánh Nữ buồn tủi rơi
lệ chăm nhìn tượng Như Lai mà lòng
quyến luyến mãi.
Bỗng nghe trên hư không có tiếng
bảo rằng: “Thánh Nữ đương khóc kia, thôi
đừng có bi ai quá lắm! Nay ta sẽ bảo cho
ngươi biết chỗ của mẹ ngươi”.
Thánh Nữ chắp tay hướng lên hư
không mà vái rằng: “Đức thần nào đó mà
giải bớt lòng sầu lo của tôi như thế? Từ
khi mẹ tôi mất đến nay, tôi thương nhớ
ngày đêm, không biết đâu để hỏi cho rõ
mẹ tôi thác sanh vào chốn nào?”.
Trên hư không lại có tiếng bảo
Thánh Nữ rằng: “Ta là đức Phật quá khứ
Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, mà
ngươi đương chiêm bái đó. Thấy ngươi
thương nhớ mẹ trội hơn thường tình của
chúng sanh nên ta đến chỉ bảo”.
Thánh Nữ nghe nói xong liền té xỉu
xuống, tay chân mình mẩy đều bị tổn
PHẨM 1 15
thương. Những người đứng bên vội vàng
đỡ dậy, một lát sau Thánh Nữ mới tỉnh lại
rồi bạch cùng trên hư không rằng: “Cúi
xin đức Phật xót thương bảo ngay cho rõ
chỗ thác sanh của mẹ con, nay thân tâm
của con sắp chết mất!”.
Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương
Như Lai bảo Thánh Nữ rằng: “Cúng dường
xong, ngươi mau mau trở về nhà, rồi ngồi
ngay thẳng nghĩ tưởng danh hiệu của Ta,
thời ngươi sẽ biết chỗ thác sanh của mẹ
ngươi”.
Lễ Phật xong, Thánh Nữ liền trở về
nhà. Vì thương nhớ mẹ, nên Thánh Nữ
ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của Giác
Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai trải suốt
một ngày một đêm, bỗng thấy thân mình
đến một bờ biển kia. Nước trong biển đó
sôi sùng sục, có rất nhiều thú dữ thân thể
toàn bằng sắt bay nhảy trên mặt biển,
chạy rảo bên nầy, xua đuổi bên kia.
Thấy những trai cùng gái số nhiều
đến nghìn muôn thoạt chìm thoạt nổi ở
trong biển, bị các thú dữ giành nhau ăn
16 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
thịt.
Lại thấy quỷ Dạ Xoa hình thù đều lạ
lùng: Hoặc nhiều tay, nhiều mắt, nhiều
chân, nhiều đầu… răng nanh chỉa ra ngoài
miệng bén nhọn dường gươm, lùa những
người tội gần thú dữ. Rồi quỷ lại chụp bắt
người tội, túm quắp đầu chân người tội
lại, hình trạng muôn thứ chẳng dám nhìn
lâu.
Khi ấy, Thánh Nữ nhờ nương sức
niệm Phật nên tự nhiên không kinh sợ.
Có một vị Quỷ Vương tên là Vô Độc,
đến cúi đầu nghênh tiếp, hỏi Thánh Nữ
rằng: “Hay thay Bồ Tát! Ngài có duyên sự
gì đến chốn nầy?”.
Thánh Nữ hỏi Quỷ Vương rằng: “Đây
là chốn nào?”.
Quỷ Vương Vô Độc đáp rằng: “Đây là
từng biển thứ nhứt ở phía Tây núi đại
Thiết Vi”.
Thánh Nữ hỏi rằng: “Tôi nghe trong
núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thiệt
như thế chăng?”.
Vô Độc đáp rằng: “Thiệt có địa ngục”.
PHẨM 1 17
Thánh Nữ hỏi rằng: “Nay tôi làm sao
để được đến chốn địa ngục đó?”.
Vô Độc đáp rằng: “Nếu không phải
sức oai thần, cần phải do nghiệp lực.
Ngoài hai điều nầy ra ắt không bao giờ có
thể đến đó được”.
Thánh Nữ lại hỏi: “Duyên cớ vì sao
mà nước trong biển nầy sôi sùng sục như
thế, và có những người tội cùng với các
thú dữ?”.
Vô Độc đáp rằng: “Những người tội
trong biển nầy là những kẻ tạo ác ở cõi
Diêm Phù Đề mới chết, trong khoảng bốn
mươi chín ngày không người kế tự để làm
công đức hầu cứu vớt khổ nạn cho; lúc
sống, kẻ đó lại không làm được nhơn lành
nào cả.
Vì thế nên cứ theo nghiệp ác của họ
đã gây tạo mà cảm lấy báo khổ ở địa ngục,
tự nhiên họ phải lội qua biển nầy.
Cách biển nầy mười muôn do tuần
về phía Đông lại có một cái biển, những
sự thống khổ trong biển đó sắp bội hơn
biển nầy.
18 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
Phía Đông của biển đó lại có một cái
biển nữa, sự thống khổ trong đó càng trội
hơn.
Đó đều là do những nghiệp nhơn xấu
xa của ba nghiệp mà cảm vời ra, đồng gọi
là biển nghiệp, chính là ba cái biển nầy
vậy”.
Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Độc
rằng: “Địa ngục ở đâu?”.
Vô Độc đáp rằng: “Trong ba cái biển
đó đều là địa ngục, nhiều đến số trăm
nghìn, mỗi ngục đều khác nhau. Về địa
ngục lớn thời có 18 chỗ, bực kế đó có 500
chỗ đủ không lường sự khổ sở, bực kế nữa
có đến nghìn trăm cũng đầy không lường
sự thống khổ”.
Thánh Nữ lại hỏi đại Quỷ Vương
rằng: “Thân Mẫu của tôi mới khuất gần
đây, không rõ thần hồn của người phải sa
vào chốn nào?”.
Quỷ Vương hỏi Thánh Nữ rằng:
“Thân mẫu của Bồ Tát khi còn sống, quen
làm những nghiệp gì?”.
Thánh Nữ đáp rằng: “Thân mẫu của
PHẨM 1 19
tôi mê tín tà đạo, khinh chê ngôi Tam
Bảo, hoặc có lúc tạm thời tin chánh pháp,
xong rồi chẳng kính. Dầu khuất không
bao lâu, mà chưa rõ đọa lạc vào đâu?”.
Vô Độc hỏi rằng: “Thân mẫu của Bồ
Tát tên họ là gì?”.
Thánh Nữ đáp rằng: “Thân phụ và
thân mẫu của tôi đều dòng dõi Bà La
Môn. Thân phụ tôi là Thi La Thiện Kiến.
Thân mẫu tôi hiệu là Duyệt Đế Lợi”.
Vô Độc chắp tay thưa Thánh Nữ
rằng: “Xin Thánh Nữ hãy trở về, chớ đem
lòng thương nhớ buồn rầu quá lắm nữa.
Tội nữ Duyệt Đế Lợi được sanh lên cõi
Trời đến nay đã ba ngày rồi.
Nghe nói nhờ con gái của người có
lòng hiếu thuận, vì mẹ mà sắm sửa lễ vật,
tu tạo phước lành, cúng dường chùa tháp,
thờ đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như
Lai. Chẳng phải chỉ riêng thân mẫu của
Bồ Tát đặng thoát khỏi địa ngục, mà ngày
đó, những tội nhơn Vô Gián cũng đều
được vui vẻ, đồng đặng thác sanh cả”.
Nói xong, Quỷ Vương chắp tay chào
20 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
Thánh Nữ mà cáo lui.
Bấy giờ, Thánh Nữ dường chiêm bao
chợt tỉnh, rõ biết việc đó rồi, bèn đối
trước tháp tượng của đức Giác Hoa Định
Tự Tại Vương Như Lai mà phát thệ
nguyện rộng lớn rằng:
“Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị
lai những chúng sanh mắc phải tội khổ,
thì tôi lập ra nhiều phương chước làm
cho chúng đó được giải thoát”.
Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi
rằng: “Quỷ Vương Vô Độc trước đó nay
chính ông Tài Thủ Bồ Tát. Còn Thánh Nữ
Bà La Môn đó, nay là Địa Tạng Bồ Tát
vậy”.
PHẨM 2 21
PHẨM THỨ HAI
PHÂN THÂN TẬP HỘI
1) HÓA THÂN CÙNG QUYẾN THUỘC. Lúc đó
phân thân Địa Tạng Bồ Tát ở các nơi có
địa ngục trăm nghìn muôn ức bất khả tư,
bất khả nghị, bất khả lượng, bất khả
thuyết, vô lượng vô số thế giới đều đến
hội họp tại cung trời Đao Lợi.
Do nhờ thần lực của Như Lai, phân
thân đó hiệp với những chúng đã được
giải thoát ra khỏi chốn nghiệp đạo ở mười
phương, cũng đều đông đến số nghìn
muôn ức na do tha, đồng cầm hương hoa
đến cúng dường Phật.
Những chúng cùng đến với phân
thân đó, thảy đều nhờ Địa Tạng Bồ Tát
giáo hóa làm cho trụ nơi đạo vô thượng
chánh đẳng chánh giác trọn không còn
thối chuyển.
Những chúng đó từ kiếp lâu xa đến
nay trôi lăn trong vòng sanh tử ở trong
sáu đường, chịu những điều khổ sở không
có lúc nào tạm ngừng dứt, nhờ lòng từ bi
22 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
lớn và thệ nguyện sâu dày của ngài Địa
Tạng Bồ Tát, nên tất cả đều chứng được
đạo quả.
Đại chúng đó khi đã đến cung trời
Đao Lợi, lòng họ vui mừng hớn hở, chiêm
ngưỡng đức Như Lai mắt nhìn mãi không
rời.
2) ĐỨC NHƯ LAI AN ỦI ỦY THÁC. Bấy giờ,
Thế Tôn dơ tay sắc vàng xoa đảnh của hóa
thân Địa Tạng đại Bồ Tát trong trăm
nghìn muôn ức bất khả tư, bất khả nghị,
bất khả lượng, bất khả thuyết, vô lượng
vô số thế giới, mà dạy rằng: “Ta ở trong
đời ác ngũ trược giáo hóa những chúng
sanh cang cường như thế, làm cho lòng
chúng nó điều phục bỏ tà về chánh;
nhưng trong mười phần vẫn còn một hai
phần chúng sanh quen theo tánh ác.
Muốn độ chúng đó, ta cũng phân
nghìn trăm ức thân lập ra nhiều phương
chước. Trong chúng sanh đó, hoặc có
người căn tánh sáng lẹ nghe Pháp của Ta
thời liền tín nhận. Hoặc có người phải ân
cần khuyên bảo mới thành tựu, được
PHẨM 2 23
thiện quả. Hoặc có kẻ vì tội nghiệp quá
nặng nên chẳng đem lòng kính tin
ngưỡng mộ. Ta phân ra nhiều thân độ
thoát những hạng chúng sanh mỗi mỗi
sai khác như thế.
Hoặc hiện ra thân trai,
Hoặc hiện ra thân gái,
Hoặc hiện ra thân Trời, Rồng,
Hoặc hiện ra thân Quỷ, Thần,
Hoặc hiện ra rừng, núi, sông, ngòi,
ao, rạch, suối, làm lợi ích cho mọi người,
để rồi độ họ được giải thoát.
Hoặc hiện ra thân Thiên Đế,
Hoặc hiện ra thân Trời Phạm Vương,
Hoặc hiện ra thân vua Chuyển Luân,
Hoặc hiện ra thân Quốc Vương,
Hoặc hiện ra thân Cư Sĩ,
Hoặc hiện ra thân Tể Phụ,
Hoặc hiện ra thân các hàng quan
thuộc,
Hoặc hiện ra thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di.
Nhẫn đến hiện ra những thân Thanh
Văn, La Hán, Bích Chi Phật và Bồ Tát để
24 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
hóa độ chúng sanh, chớ chẳng phải chỉ có
thân Phật hiện ra trước chúng thôi đâu!
Địa Tạng! Ông xem ta đã trải qua bao
số kiếp nhọc nhằn độ thoát những chúng
sanh cang cường đầy tội khổ khó khai
hóa như thế. Ngoài ra những kẻ chưa điều
phục được, thời phải theo nghiệp thọ báo.
Nếu khi chúng đó có bị đọa vào
đường dữ chịu nhiều sự thống khổ, thời
ông nên nghĩ nhớ Ta ở cung Trời Đao Lợi
ân cần phó chúc đây mà gắng độ chúng
sanh, làm cho chúng sanh trong cõi Ta Bà
nầy đến lúc Phật Di Lặc ra đời, đều đặng
giải thoát, khỏi hẳn các điều khổ, gặp
Phật, được đức Phật thọ ký”.
Bấy giờ, những hóa thân Địa Tạng Bồ
Tát ở các thế giới hiệp chung lại một
hình, rơi lệ thương cảm mà bạch cùng
đức Phật rằng: “Từ số kiếp lâu xa đến nay,
con nhờ đức Thế Tôn tiếp độ dắt dìu làm
cho con được thần lực chẳng thể nghĩ
bàn, đầy đủ trí huệ rộng lớn.
Con phân hiện thân hình ra ở cùng
khắp trăm nghìn muôn ức Hằng hà sa thếPHẨM 2 25
giới. Trong mỗi thế giới hóa hiện trăm
nghìn muôn ức thân. Mỗi thân đó hóa độ
trăm nghìn muôn ức người làm cho quy
kính ngôi Tam Bảo, khỏi hẳn vòng sanh
tử hưởng vui Niết Bàn.
Những chúng sanh nào ở nơi Phật
Pháp chỉ làm việc lành bằng một sợi lông,
một giọt nước, một hột cát, một bụi nhỏ,
hoặc chỉ bằng chừng mảy lông tóc, con
đều độ thoát lần lần, làm cho chúng đó
được lợi ích lớn.
Cúi mong đức Như Lai chớ vì những
chúng sanh ác nghiệp trong đời sau mà
sanh lòng lo lắng!… Cúi mong đức Như
Lai chớ vì những chúng sanh ác nghiệp
trong đời sau mà sanh lòng lo lắng!…”
Ngài Địa Tạng Bồ Tát bạch cùng đức Phật
ba lần như thế.
Lúc ấy, đức Phật khen ngài Địa Tạng
Bồ Tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Ta hộ
trợ cho ông được toại nguyện! Từ số kiếp
lâu xa đến nay thường phát nguyện rộng
lớn, cứu độ tất cả chúng sanh xong rồi,
thời ông liền chứng quả Bồ Đề”. ❖
26 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
PHẨM THỨ BA
QUÁN CHÚNG SANH NGHIỆP DUYÊN
1) PHẬT MẪU THƯA HỎI. Lúc đó, đức
Phật Mẫu là bà Ma Da Phu Nhơn chắp tay
cung kính mà hỏi ngài Địa Tạng Bồ tát:
“Thánh Giả! Chúng sanh trong cõi Diêm
Phù Đề tạo nghiệp sai khác, cảm thọ quả
báo ra thế nào?”
Ngài Địa Tạng Bồ tát đáp rằng:
“Trong nghìn muôn thế giới cho đến quốc
độ, hoặc nơi thời có địa ngục, nơi thời
không địa ngục, hoặc nơi thời có hàng nữ
nhơn, nơi thời không có hàng nữ nhơn,
hoặc nơi Phật pháp, nơi thời không Phật
pháp, nhẫn đến bực Thanh Văn và Bích
Chi Phật v.v… Cũng sai khác như thế, chớ
chẳng phải riêng tội báo nơi địa ngục sai
khác thôi đâu!”
Bà Ma Da Phu Nhơn lại bạch cùng Bồ
tát rằng: “Tôi muốn nghe tội báo trong
cõi Diêm Phù Đề chiêu cảm lấy ác đạo”.
PHẨM 3 27
Ngài Địa Tạng đáp rằng: “Thánh
Mẫu! Trông mong Ngài lóng nghe nhận
lấy, Tôi sẽ lược nói việc đó”.
Thánh Mẫu bạch rằng: “Xin Thánh
Giả nói cho”.
2) BỒ TÁT LƯỢC THUẬT. Bây giờ, ngài Địa
Tạng Bồ tát thưa Thánh Mẫu rằng: “Danh
hiệu của những tội báo trong cõi Nam
Diêm Phù Đề như dưới đây:
Như có chúng sanh chẳng hiếu thảo
với cha mẹ, cho đến giết hại cha mẹ, kẻ
đó phải đọa vào Vô Gián địa ngục mãi đến
nghìn muôn ức kiếp không lúc nào mong
ra khỏi được.
Như có chúng sanh nào có lòng ác,
làm thân Phật bị thương chảy máu, khinh
chê ngôi Tam Bảo, chẳng kính kinh điển,
cũng phải đọa vào Vô Gián địa ngục,
trong nghìn muôn ức kiếp không khi nào
ra khỏi được.
Hoặc có chúng sanh xâm tổn của
thường trụ, ô phạm Tăng, Ni, hoặc tứ tình
làm sự dâm loạn trong chốn chùa chiền,
hoặc giết, hoặc hại… Những chúng sanh
28 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
đó phải đọa vào Vô Gián địa ngục, trong
nghìn muôn ức kiếp không lúc nào mong
ra khỏi được.
Như có chúng sanh giả làm thầy Sa
Môn kỳ thật tâm chẳng phải Sa Môn, lạm
dụng của thường trụ, trái phạm giới luật,
gạt gẫm hàng bạch y, tạo nhiều điều tội
ác. Hạng người như thế phải đọa vào Vô
Gián địa ngục, trong nghìn muôn ức kiếp
không lúc nào mong ra khỏi được.
Hoặc có chúng sanh trộm cắp những
tài vật lúa gạo, đồ ăn uống, y phục v.v…
của thường trụ, cho đến không cho mà
lấy một vật, kẻ đó phải đọa vào Vô Gián
địa ngục trong nghìn muôn ức kiếp
không lúc nào mong ra khỏi được”.
Ngài Địa Tạng Bồ Tát thưa rằng:
“Thánh Mẫu! Nếu có chúng sanh nào
phạm những tội như trên đó thời phải
đọa vào địa ngục ngũ Vô Gián, cầu tạm
ngừng sự đau khổ chừng khoảng một
niệm cũng không được”.
PHẨM 3 29
Bà Ma Da Phu Nhơn lại bạch cùng
Địa Tạng Bồ Tát: “Thế nào gọi là Vô Gián
địa ngục?”.
Ngài Địa Tạng Bồ Tát thưa rằng:
“Thánh Mẫu! Bao nhiêu địa ngục ở trong
núi Thiết Vi, lớn có 18 chỗ, thứ kế đó 500
chỗ danh hiệu đều riêng khác nhau, thứ
kế lại có nghìn trăm danh hiệu cũng đều
riêng khác nhau.
Nói về địa ngục Vô Gián đó, giáp
vòng ngục thành hơn tám muôn dặm,
thành đó thuần bằng sắt cao đến một
muôn dặm. Lửa cháy trên thành không có
chỗ nào hở trống. Trong ngục thành đó
có các nhà ngục liên tiếp nhau đều có
danh hiệu sai khác.
Riêng có một sở ngục tên là Vô Gián.
Ngục nầy châu vi một muôn tám nghìn
dặm, tường ngục cao một nghìn dặm,
toàn bằng sắt cả. Lửa cháy hực hở suốt
trên suốt dưới. Trên tường ngục rắn sắt,
chó sắt, phun lửa đuổi nhau chạy bên nầy
sang bên kia
30 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
Trong ngục có giường rộng khắp
muôn dặm. Một người thọ tội thời tự thấy
thân mình nằm đầy chật cả giường, đến
nghìn muôn người thọ tội cũng đều tự
thấy thân của mình nằm chật cả trên
giường. Đó là do vì những tội nghiệp đã
tạo ra nó cảm vời như thế.
Lại những người tội chịu đủ sự khổ
sở: Trăm nghìn quỷ Dạ Xoa cùng với loài
ác quỷ, răng nanh bén nhọn dường gươm,
cặp mắt chói sáng như chớp nhoáng,
móng tay cứng như đồng, móc ruột bằm
chặt.
Lại có quỷ Dạ Xoa khác cầm chỉa lớn
bằng sắt đâm vào mình người tội, hoặc
đâm trúng miệng mũi, hoặc đâm trúng
bụng lưng… Rồi dồi lên trên không, lấy
chỉa hứng lấy để lại trên giường. Lại có
diều hâu bằng sắt mổ mắt người tội. Lại
có rắn sắt cắn đầu người tội. Nơi lóng đốt
khắp trong thân thể đều lấy đinh dài
đóng xuống giường, kéo lưỡi ra rồi cày
bừa trên đó, lôi kéo người tội, nước đồng
đổ vào miệng, dây sắt nóng đỏ quấn lấy
PHẨM 3 31
thân người tội, một ngày một đêm, muôn
lần chết muôn lần sống lại. Do vì tội
nghiệp mà cảm lấy như thế, trải qua ức
kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được.
Lúc thế giới nầy hư hoại thời sanh
nhờ qua địa ngục ở thế giới khác. Lúc thế
giới khác đó hư hoại thời lại sanh vào cõi
khác nữa. Lúc cõi khác đó hư hoại thời
cũng xoay vần sanh vào cõi khác. Đến khi
thế giới nầy thành xong thời sanh trở về
thế giới nầy. Những sự tội báo trong ngục
Vô Gián như thế đó.
Lại địa ngục đó do có năm điều
nghiệp cảm, nên kêu là Vô Gián. Năm
điều đó là những gì?
1. Tội nhơn trong đó chịu khổ ngày
lẫn đêm, cho đến trải qua số kiếp không
lúc nào ngừng ngớt, nên gọi là Vô Gián.
2. Một người tội thân đầy chật cả
ngục, nhiều người tội mỗi mỗi thân cũng
đều đầy chật cả ngục, nên gọi là Vô Gián.
3. Những khí cụ để hành hình tội
nhơn như chĩa ba, gậy, diều hâu, rắn, sói,
chó, cối giã, cối xay, cưa, đục, dao mác,
32 KINH ĐỊA TẠNG – QUYỂN THƯỢNG
chảo dầu sôi, lưới sắt, dây sắt, lừa sắt,
ngựa sắt, da sống niền đầu, nước sắt nóng
rưới thân, đói thời ăn hoàn sắt nóng, khát
thời uống nước sắt sôi. Từ năm trọn kiếp,
đến vô số kiếp những sự khổ sở nối nhau
luôn không một giây ngừng ngớt nên gọi
là Vô Gián.
4. Không luận là trai hay gái, Mường,
Mán, Mọi rợ, già trẻ, sang hèn, hoặc là
Rồng, là Trời, hoặc là Thần, là Quỷ, hễ gây
tội ác theo đó mà cảm lấy, tất cả đều đồng
chịu khổ, nên gọi là Vô Gián.
5. Nếu người nào bị đọa vào địa ngục
đó, thời từ khi mới vào cho đến trăm
nghìn kiếp mỗi một ngày đêm muôn lần
chết, muôn lần sống lại, muốn cầu tạm
ngừng chừng khoảng một niệm cũng
không đặng, trừ khi tội nghiệp tiêu hết
mới đặng thọ sanh. Do vì lẽ liên miên mãi
nên gọi là Vô Gián.
Ngài Địa Tạng Bồ Tát thưa Thánh
Mẫu rằng: “Nói sơ lược về địa ngục Vô
Gián như thế. Nếu nói rộng ra thời tên
của những khí cụ để hành tội cùng những
PHẨM 3 33
sự thống khổ trong địa ngục đó, dầu đến
suốt một kiếp cũng không thể nào nói
cho hết được”.
Bà Ma Da Phu Nhơn nghe ngài Địa
Tạng Bồ Tát nói xong, không xiết lo rầu.
Bà chắp tay đảnh lễ Bồ Tát mà lui ra.39

